Thai kỳ bình thường

Thai kỳ bình thường

Thai kỳ bình thường

Chỉ từ 3,074,000đ
Thai kỳ bình thường
Gói Cơ bản

Tầm soát ban đầu

18 chỉ số
3,074,000đ
Gói Tiêu chuẩn

Phân tầng chẩn đoán

20 chỉ số
4,873,000đ
Gói Nâng cao

Phân tầng điều trị

21 chỉ số
6,419,000đ
Xét nghiệm đo hoạt độ ALT/GPT (Alanine Aminotransferase/Glutamate Pyruvate Transaminase) là xét nghiệm đo nồng độ Enzyme ALT/GPT trong máu được dùng để kiểm tra chức năng gan và phát hiện sớm các tổn thương, chỉ số tăng cao cho thấy tổn thương tế bào gan do bệnh lý về gan như viêm gan do rượu, thuốc, virus; xơ gan; theo dõi tác dụng không mong muốn của các loại thuốc có thể gây hại cho gan,...
Anti-CMV IgG + IgM là xét nghiệm huyết thanh học phát hiện kháng thể chống Cytomegalovirus (CMV), dùng để đánh giá tình trạng nhiễm CMV hiện tại hay đã từng nhiễm, đặc biệt quan trọng trong thai kỳ và bệnh nhân suy giảm miễn dịch.
Xét nghiệm giúp đo men gan AST trong máu để đánh giá tổn thương tế bào gan, tim hoặc cơ vân. Nồng độ tăng trong viêm gan, nhồi máu cơ tim hoặc chấn thương cơ.
Xét nghiệm này cung cấp thông tin về hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu và hemoglobin. Kết quả hỗ trợ chẩn đoán thiếu máu, nhiễm trùng, rối loạn miễn dịch và bệnh lý tủy xương.
EBV VCA IgM + IgG là xét nghiệm huyết thanh học phát hiện kháng thể kháng kháng nguyên capsid (VCA) của virus Epstein-Barr (EBV), dùng để xác định giai đoạn nhiễm EBV.
Xét nghiệm GGT đánh giá tổn thương gan và đường mật. Hoạt độ GGT tăng trong bệnh gan mật, nghiện rượu, sử dụng thuốc gây cảm ứng men gan và một số bệnh lý chuyển hóa. GGT thường được dùng kết hợp với ALT, AST, ALP để xác định nguyên nhân tổn thương gan.
Xét nghiệm HBsAg giúp chẩn đoán nhiễm HBV cấp hoặc mạn tính, sàng lọc người lành mang virus và đánh giá nguy cơ lây nhiễm. Đây là xét nghiệm cơ bản trong tầm soát và quản lý bệnh viêm gan B.
Xét nghiệm HIV Combo Ag/Ab (hay HIV 4th Generation Test) phát hiện đồng thời kháng nguyên p24 của virus HIV và kháng thể kháng HIV-1, HIV-2 trong máu. Mục tiêu là tầm soát và chẩn đoán sớm nhiễm HIV, giúp phát hiện virus ngay từ giai đoạn cửa sổ (2-4 tuần sau phơi nhiễm). Phương pháp miễn dịch tự động (ECLIA/CLIA/ELISA) cho độ nhạy và đặc hiệu cao, hỗ trợ xác định sớm người nhiễm HIV, hướng dẫn điều trị và phòng lây truyền cộng đồng.
HSV-1/2 Ab (IgG + IgM) là xét nghiệm huyết thanh học phát hiện kháng thể IgM và IgG chống lại virus Herpes simplex type 1 và 2, dùng để đánh giá phơi nhiễm và tình trạng nhiễm HSV.
RPR định lượng (Rapid Plasma Reagin) là xét nghiệm huyết thanh học không đặc hiệu dùng để sàng lọc, đánh giá hoạt tính bệnh và theo dõi điều trị giang mai.
Rubella IgM + IgG là xét nghiệm huyết thanh học phát hiện kháng thể chống virus Rubella, dùng để chẩn đoán nhiễm Rubella cấp và đánh giá tình trạng miễn dịch, đặc biệt quan trọng trong thai kỳ.
Xét nghiệm Syphilis được dùng để phát hiện nhiễm xoắn khuẩn Treponema pallidum – tác nhân gây bệnh giang mai. Giúp chẩn đoán, theo dõi giai đoạn bệnh, hiệu quả điều trị và tầm soát lây truyền qua đường tình dục hoặc mẹ sang con.
Toxoplasma gondii IgG + IgM là xét nghiệm huyết thanh học phát hiện kháng thể chống ký sinh trùng T. gondii, dùng để đánh giá tình trạng nhiễm toxoplasmosis, đặc biệt quan trọng trong thai kỳ và người suy giảm miễn dịch.
Xét nghiệm tế bào nước tiểu bằng máy tự động giúp chẩn đoán và theo dõi các bệnh lý liên quan đến thận và đường tiết niệu như viêm nhiễm, tổn thương thận, hay các bệnh lý hệ thống ảnh hưởng đến thận. Đánh giá các tế bào và chất cặn trong nước tiểu có thể cung cấp thông tin quan trọng về tình trạng sức khỏe của bệnh nhân, từ đó hướng dẫn điều trị phù hợp.
Xét nghiệm định lượng tế bào hồng cầu, bạch cầu và biểu mô trong nước tiểu bằng máy tự động, giúp phát hiện viêm, nhiễm khuẩn hoặc tổn thương thận.
Xét nghiệm glucose đánh giá tình trạng chuyển hóa đường trong cơ thể. Kết quả giúp chẩn đoán, sàng lọc và theo dõi đái tháo đường, hạ đường huyết hoặc rối loạn dung nạp glucose.
Xét nghiệm RF giúp phát hiện yếu tố dạng thấp, một tự kháng thể liên quan đến bệnh viêm khớp dạng thấp. Kết quả hỗ trợ chẩn đoán và theo dõi diễn tiến của các bệnh lý tự miễn và viêm mạn tính.
Xét nghiệm định nhóm máu xác định nhóm ABO của cá nhân, cần thiết trong truyền máu, phẫu thuật và sản khoa. Kỹ thuật ống nghiệm giúp đảm bảo độ chính xác cao và tránh tai biến truyền máu.
Double Test là xét nghiệm huyết thanh mẹ dùng để sàng lọc nguy cơ bất thường nhiễm sắc thể ở thai nhi, thực hiện trong tam cá nguyệt I (11-13 tuần + 6 ngày). Thành phần PAPP-A (Pregnancy-Associated Plasma Protein A) free β-hCG
Sàng lọc tiền sản giật tam cá nguyệt đầu là chương trình đánh giá nguy cơ sớm (11-13+6 tuần) nhằm dự đoán nguy cơ tiền sản giật, đặc biệt tiền sản giật khởi phát sớm, để can thiệp dự phòng kịp thời..
Xét nghiệm PCR định tính phát hiện GBS (Group B Streptococcus) - Thermo Fisher sử dụng kỹ thuật PCR khuếch đại gen đặc hiệu để phát hiện sự hiện diện của vi khuẩn liên cầu nhóm B trong mẫu bệnh phẩm (âm đạo - trực tràng). Kết quả giúp sàng lọc phụ nữ mang thai, phòng ngừa lây truyền GBS từ mẹ sang con trong khi sinh. Đây là xét nghiệm có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, được khuyến cáo thực hiện ở tuần thai 35-37.
Ở tam cá nguyệt 2 và 3, mục tiêu không còn là sàng lọc dự đoán sớm, mà là phát hiện sớm - phân tầng nguy cơ - theo dõi tiến triển tiền sản giật (TSG).
Triple Test là xét nghiệm huyết thanh mẹ dùng để sàng lọc nguy cơ bất thường nhiễm sắc thể và dị tật ống thần kinh ở thai nhi, thường thực hiện trong tam cá nguyệt II (15-20 tuần). Thành phần AFP (Alpha-fetoprotein) hCG (human Chorionic Gonadotropin) uE3 (Unconjugated Estriol)

Đăng ký tư vấn